Tuyên truyền về công tác phân giới, cắm mốc

Thứ sáu - 18/05/2018 23:32
Thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền về công tác phân giới, cắm mốc và quản lí đất liền, biển đảo của Sở GD&ĐT Hà Nội, nhà trường xin giới thiệu bài viết về nội dung này.
Tuyên truyền về công tác phân giới, cắm mốc
1. Việt Nam – Campuchia
Công tác phân giới cắm mốc có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm xác lập đường biên giới giữa hai nước, tiến hành phân giới cắm mốc trên thực địa sẽ giúp hai bên có đầy đủ cơ sở để nhận biết đường biên giới, phạm vi lãnh thổ của mỗi quốc gia để thực hiện công tác quản lý, bảo vệ.
Đường biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia dài khoảng 1.137km, bắt đầu từ điểm ngã ba biên giới giữa ba nước Việt Nam - Campuchia - Lào (thuộc tỉnh Kon Tum) tới điểm cuối cùng nằm trên bờ biển giữa hai nước thuộc tỉnh Kiên Giang; phía Việt Nam có 10 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang; phía Campuchia có 9 tỉnh: Ratanakiri, Mondulkiri, Crache, Kampongcham, Pre Veng, Svey Rieng, Kandal, Takeo, Kampot. 
 
Thực hiện Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia Việt Nam - Campuchia năm 1985 và Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định năm 2005, hai bên dự kiến sẽ cắm tổng số 314 vị trí mốc, tương ứng với 372 cột mốc trên toàn tuyến biên giới và thực hiện công tác phân giới giữa các mốc để làm rõ đường biên giới. Đến cuối năm 2012 đã xây dựng được 277 cột mốc, đạt 74,5%, bên cạnh đó công tác phân giới được 824,2km, đạt 72,5%. Song song với công tác phân giới cắm mốc, hai nước cũng đang triển khai công tác thành lập bộ bản đồ địa hình biên giới để thể hiện và ghi nhận kết quả phân giới cắm mốc; xúc tiến việc soạn thảo Nghị định thư phân giới cắm mốc và các văn bản liên quan tới công tác quản lý biên giới, quản lý cửa khẩu,....
Công tác phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt nam – Campuchia vẫn còn đang tiếp tục nhưng đã mang lại hiệu quả rất rõ, đó là giúp cho các ngành chức năng hai nước tiến hành quản lý biên giới thuận lợi, nhân dân sống ở khu vực biên giới giữa hai nước dễ dàng nhận biết được đường biên giới, tránh được hiện tượng xâm canh, xâm cư do thiếu hiểu biết về đường biên mốc giới. An ninh biên giới được giữ vững, công tác phối hợp giữa các lực lượng như Công an, Quân sự, BĐBP, Hải quan giữa ta và bạn diễn ra tốt đẹp, an ninh trật tự trên tuyến biên giới được triển khai đồng bộ, chặt chẽ, góp phần tăng cường quan hệ hữu nghị Việt Nam - Campuchia và nhân dân hai bên biên giới. Thực hiện có hiệu quả kế hoạch hợp tác trong công tác phòng chống các loại tội phạm như buôn lậu, mua bán trái phép chất ma túy, vũ khí, buôn bán người, vượt biên trái phép. Các lực lượng đứng chân trên biên giới của hai bên duy trì tốt việc trao đổi, phối hợp tuần tra song phương, bảo vệ các mốc dấu, cột mốc đã và đang xây dựng; ngăn chặn kịp thời các hoạt động chống phá của các phần tử xấu. Thường xuyên tuyên truyền chính sách, pháp luật về biên giới cho nhân dân địa phương, nhất là pháp luật của hai nước khi sang làm ăn, thăm thân nhân,.... Bên cạnh công tác phân giới cắm mốc, hai nước còn quan tâm cùng nhau hỗ trợ và đẩy mạnh hợp tác phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới như tổ chức giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao; tổ chức hội chợ biên giới, xây dựng các khu kinh tế cửa khẩu, xúc tiến thương mại,.... Chính nhờ vào các nỗ lực hợp tác đó, kim ngạch xuất nhập khẩu hai nước không ngừng được tăng lên, cụ thể năm 2010 đạt 1,8 tỷ USD, năm 2011 đạt 2,8 tỷ USD, năm 2012 đạt 3,31 tỷ USD, dự báo kim ngạch thương mại hai chiều đạt 5 tỷ USD vào năm 2015. Từ những kết quả nêu trên cho thấy vai trò quan trọng của công tác phân giới cắm mốc, xác lập rạch ròi, minh bạch đường biên, mốc giới, đồng thời xây dựng hệ thống cột mốc biên giới không những giữ vững chủ quyền lãnh thổ, đảm bảo an ninh - chính trị mà còn phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa, xây dựng tình hữu nghị, đoàn kết bền vững.
 
Với sự nỗ lực chung của hai nước, việc phân giới cắm mốc trên đất liền giữa Việt Nam – Campuchia đã hoàn thành ở các khu vực trọng điểm về kinh tế, xã hội, các cửa khẩu quốc tế, quốc gia, nơi có các tuyến đường giao thông quan trọng qua lại, phục vụ kịp thời cho việc phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân khu vực biên giới. Tuy nhiên, công tác phân giới cắm mốc vẫn còn một khối lượng lớn các công việc phải làm như hoàn thành việc xác định mốc và phân giới ở các khu vực còn tồn đọng, khu vực chưa chuyển vẽ, xây dựng bộ bản đồ địa hình biên giới, hoàn thành việc xây dựng Nghị định thư ghi nhận kết quả phân giới cắm mốc, xây dựng và ban hành các Hiệp định về quy chế quản lý biên giới, quản lý cửa khẩu,....
 
Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng với mục tiêu nhằm xây dựng một đường biên giới hòa bình, ổn định, vì lợi ích lâu dài của nhân dân hai nước và các địa phương biên giới… công tác phân giới cắm mốc tiếp tục thực hiện một cách quyết liệt để có thể hoàn thành trong thời gian sớm nhất. Do vậy, việc tuyên truyền, vận động nhân dân, cán bộ, công chức, các ngành các cấp… nắm rõ ý nghĩa, tầm quan trọng và hiệu quả của việc xác định đường biên giới nhằm quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, tìm kiếm các giải pháp phù hợp để sớm hoàn thành nhiệm vụ phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa Việt Nam- Campuchia.

2. Việt Nam – Trung Quốc:
Biên giới quốc gia (BGQG) do con người tạo ra trên cơ sở tôn trọng các yếu tố về lịch sử, dân tộc, địa lý và nhiều yếu tố khác có liên quan giữa hai nước. BGQG được coi là cơ sở pháp lý, đồng thời là một trong những nền tảng vật chất, tinh thần để mỗi quốc gia tồn tại và phát triển. Vì vậy, xác định một đường biên giới rõ ràng, minh định, phù hợp với thực tiễn luật pháp quốc tế là vấn đề cực kỳ hệ trọng đối với bất cứ một quốc gia nào. Song do nhiều yếu tố, cả khách quan và chủ quan, nên việc xác định BGQG giữa các nước trên thế giới thường rất phức tạp. BGQG giữa Việt Nam và Trung Quốc, vì thế, cũng không tránh khỏi thực tiễn có tính phổ biến đó.
Lịch sử cho thấy, dựa vào tập quán, lối sống, ngôn ngữ của các dân tộc ở khu vực biên giới, đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được hình thành ngay từ thế kỷ thứ X. Mặc dù đường biên giới đó chỉ có tính tương đối, nhưng nó được coi là cơ sở ban đầu rất quan trọng cho việc xác định một đường biên giới rõ ràng hơn sau này. Đến nửa cuối thế kỷ thứ XIX, thực dân Pháp (khi đó đang áp đặt chế độ thuộc địa trên đất nước ta) và triều đình nhà Thanh, Trung Quốc, đã ký các công ước về biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đó là năm 1887, hai bên ký Công ước hoạch định biên giới giữa Bắc Kỳ với Trung Quốc (gọi tắt là Công ước 1887); năm 1895, hai bên tiếp tục ký Công ước bổ sung Công ước hoạch định biên giới (gọi tắt là Công ước 1895). Đường biên giới do hai Công ước xác lập về cơ bản là dựa vào đường biên giới đã được hình thành và tồn tại từ lâu đời giữa hai nước; trên cơ sở đó, hai bên tiến hành phân giới và cắm được 341 cột mốc trên thực địa. Tuy vậy, do phương tiện kỹ thuật còn kém hiện đại, nên việc phân giới, cắm mốc lần này cũng bộc lộ những hạn chế nhất định. Chẳng hạn, việc phân giới không được xác định bằng lưới tọa độ; các cột mốc chưa bảo đảm tính kiên cố, bố trí lại thưa và thiếu sự mô tả chính xác. Đặc biệt, nhiều đoạn biên giới không được mô tả rõ ràng và bản đồ đính kèm thể hiện rất sơ lược. Những đặc điểm đó, cùng với những yếu tố về môi trường và các biến cố lịch sử trải qua hơn một trăm năm, đã làm cho nhiều cột mốc bị hư hỏng, thậm chí bị mất hoặc bị xê dịch so với vị trí đã vẽ trên bản đồ. Những đoạn không có cột mốc lại càng khó xác định đường biên giới vì địa hình, địa vật đã có nhiều thay đổi. Đây chính là các yếu tố khiến hai bên có nhận thức không thống nhất về đường biên giới ở một số khu vực, làm cho công tác quản lý, bảo vệ biên giới gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp, thậm chí, có thời điểm còn xảy ra tranh chấp về chủ quyền, nhất là ở những đoạn biên giới chưa được xác định rõ ràng.
Tình hình trên cho thấy, việc phải xác định lại đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc là rất cần thiết. Bởi lẽ, ranh giới phân chia chủ quyền giữa hai nước chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi đường biên giới được phân định rõ ràng, được đánh dấu bằng một hệ thống mốc giới cụ thể trên thực địa. Nếu chưa tiến hành phân giới, cắm mốc, lực lượng chức năng hai bên sẽ không có cơ sở đầy đủ để nhận biết đường biên giới, phạm vi lãnh thổ của mỗi quốc gia; do đó, gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí bất đồng trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới. Mặt khác, chỉ khi có được một đường biên giới rõ ràng, dễ nhận biết thì nhân dân hai bên ở khu vực biên giới mới hiểu được khu vực nào mình được phép định cư, làm ăn, sinh sống. Nói cách khác, phân giới cắm mốc không chỉ là các công việc mang tính kỹ thuật mà còn là công việc mang tính pháp lý, chính trị, xã hội, nhằm bảo đảm cho hai bên thực hiện hiệp định về biên giới có hiệu quả. Nhận thức được vấn đề đó, Việt Nam và Trung Quốc đã chủ động đàm phán để giải quyết các vấn đề về biên giới (đàm phán lần đầu tiên vào tháng 8-1974, lần thứ hai vào tháng 10-1977, lần thứ ba vào tháng 4-1979). Đặc biệt, sau khi bình thường hoá quan hệ, việc đàm phán về biên giới đất liền giữa hai nước đã đi vào những vấn đề cụ thể hơn, với quyết tâm cao hơn của Đảng và Chính phủ hai nước. Tháng 10-1993, hai bên đã ký Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nội dung chính của Thoả thuận này là: hai bên đồng ý lấy Công ước 1887, Công ước 1895 và các văn kiện, bản đồ kèm theo làm căn cứ xác định lại đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc; hai bên sử dụng bản đồ địa hình khu vực biên giới tỷ lệ 1/50.000 để vẽ đường biên giới theo chủ trương của mình và sớm trao đổi cho nhau; đối với những đoạn sông, suối (khoảng 400 km) thì giải quyết theo thực tiễn luật pháp quốc tế.
Sau 7 năm đàm phán tại nhiều cấp (cấp Chính phủ, cấp chuyên viên, cấp kỹ thuật…), ngày 30-12-1999, tại Hà Nội, Hiệp ước về biên giới đất liền giữa nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã được ký kết (gọi tắt là Hiệp ước 1999). Theo Hiệp ước, hướng đi của đường biên giới được mô tả từ Tây sang Đông, có bản đồ tỷ lệ 1/50.000 đính kèm; hai bên thống nhất giải quyết 289 khu vực trên đường biên giới có nhận thức khác nhau theo con số cụ thể: khoảng 114,9 km2 thuộc về Việt Nam, và khoảng 117,2 km2thuộc về Trung Quốc; đường biên giới vẽ lại được thể hiện bằng lời văn và đường đỏ trên bản đồ sẽ được đánh dấu bằng hệ thống mốc giới hiện đại, bền vững, gọi tắt là phân giới cắm mốc.
Sau khi Hiệp ước 1999 có hiệu lực (tháng 7-2000), Việt Nam và Trung Quốc thành lập 12 nhóm liên hợp, tiến hành phân giới cắm mốc theo phương pháp song phương (cùng nhau phân giới cắm mốc trên thực địa). Quá trình phân giới cắm mốc có thể chia thành 3 giai đoạn.
Giai đoạn 1 (2001-2003): ngày 27-12-2001, hai bên cắm mốc quốc giới đầu tiên tại cửa khẩu quốc tế Móng Cái (tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam) và Đông Hưng (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc). Sau đó, hai bên thoả thuận phân giới cắm mốc theo hình thức "cuốn chiếu" từ Tây sang Đông, làm đến đâu xong đến đó, dứt điểm từng đoạn. Tuy vậy, do hai bên còn một số nhận thức khác nhau về cách thức triển khai, nên trong giai đoạn này chỉ xác định được 106 vị trí mốc và cắm được 89 mốc.
Giai đoạn 2 (2004-2006): hai bên tiếp tục đàm phán, thống nhất cách làm là "dễ trước khó sau", khi gặp vướng mắc thì tạm gác lại để chuyển sang khu vực tiếp theo. Giai đoạn này hai bên đã xác định được 276 mốc.
Giai đoạn 3 (2007-2008): do nhiều vị trí mốc giới chưa xác định được ở các năm trước dồn lại (đều ở các khu vực nhạy cảm, có lịch sử tranh chấp lâu đời) nên hai bên lại phải tiếp tục đàm phán, qua đó lấy nguyên tắc "cả gói", bảo đảm cân bằng về lợi ích để giải quyết các vấn đề còn tồn đọng. Mặc dù vậy, phải đến vòng đàm phán cuối cùng, những giây phút cuối cùng, hai bên mới thống nhất được cách giải quyết ở  khu vực thác Bản Giốc và cửa sông Bắc Luân. Đối với khu vực thác Bản Giốc, hai bên thỏa thuận đường biên giới đi từ mốc 53 cũ, qua cồn Pò Thoong, đến điểm giữa của mặt thác chính, sau đó đến dòng chảy chính trên sông Quây Sơn. Theo thỏa thuận, Việt Nam được hơn 2/3 khu vực thác Bản Giốc, 1/3 còn lại là của Trung Quốc. Hai bên còn thỏa thuận không xây dựng các công trình nhân tạo tại khu vực thác để bảo đảm cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái; đồng thời, nhất trí xem xét về việc cùng hợp tác để khai thác tiềm năng du lịch ở khu vực này. Còn đối với khu vực cửa sông Bắc Luân, hai bên đã đi đến thống nhất là: bãi Tục Lãm 3/4 thuộc Việt Nam, 1/4 thuộc Trung Quốc; bãi Dậu Gót 1/3 thuộc Việt Nam, 2/3 thuộc Trung Quốc. Việt Nam và Trung Quốc cũng đồng ý thiết lập hệ thống giao thông thủy tự do cho nhân dân địa phương hai bên biên giới sử dụng luồng 2 bên của bãi Tục Lãm và bãi Dậu Gót. Như vậy, hai khu vực được coi là nhạy cảm nhất, cuối cùng cũng được ta và bạn giải quyết trên cơ sở nhân nhượng lẫn nhau, có lý, có tình.
Cuối cùng, ngày 31-12-2008, Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ của Việt Nam và Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ của Trung Quốc cùng nhau ra Tuyên bố về việc hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc đúng thời hạn mà lãnh đạo cấp cao của hai Đảng, hai Nhà nước đã đề ra. Sau 8 năm vừa đàm phán vừa thực hiện phân giới cắm mốc, hai bên đã phân giới xong toàn bộ khoảng 1.400 km đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc, cắm 1.971 cột mốc (trong đó có 1.549 cột mốc chính và 422 cột mốc phụ). Đường biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc được xác định và mô tả chi tiết đúng với tình hình thực tế, phù hợp với lời văn Hiệp ước 1999; mức độ cột mốc dày đặc, dễ nhận biết, bảo đảm tính chính xác và tính bền vững, có giá trị và độ tin cậy cao cả về mặt kỹ thuật cũng như về tính pháp lý. Nói cách khác, kết quả phân giới cắm mốc là thoả đáng, thấu tình, đạt lý, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản, đáp ứng yêu cầu đặt ra của cả hai bên.  
Với những thành quả đạt được trên đây, có thể nói, việc hoàn thành phân giới cắm mốc trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc là thắng lợi chung của cả hai nước. Từ đây, hai quốc gia có cơ sở mới cho quá trình tồn tại và phát triển của mình. Đối với nước ta, việc hoàn thành phân giới cắm mốc trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc là sự kiện có ý nghĩa lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta đã xác định: Bảo vệ Tổ quốc XHCN là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc. Với đường biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc được hoạch định rõ ràng bằng các văn bản pháp lý song phương, được hai bên phân định, đánh dấu bằng một hệ thống mốc giới hiện đại trên thực địa, chúng ta có thể tin tưởng đó là cơ sở và điều kiện đầy đủ để các lực lượng chức năng tiến hành công tác quản lý, bảo vệ BGQG có hiệu quả. Nhân dân ở khu vực biên giới giờ đây có thể nhận biết rõ ràng về ranh giới giữa hai nước để chẳng những yên tâm định cư, làm ăn, sinh sống mà còn góp phần bảo vệ đường biên giới, tránh được các hiện tượng làm ăn, sinh sống quá sang nhau do thiếu hiểu biết về đường biên giới. Một đường biên giới rõ ràng, dễ nhận biết còn là điều kiện thuận lợi để chính quyền và nhân dân hai bên khu vực biên giới phối hợp, hợp tác đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng những vấn đề nhạy cảm về biên giới để chống phá cách mạng của các thế lực thù địch. Đặc biệt, đường biên giới được hoạch định, có giá trị pháp lý là vấn đề có ý nghĩa sống còn bảo đảm cho biên giới ổn định, hoà bình, tạo thuận lợi để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, tăng cường quốc phòng-an ninh không chỉ ở khu vực biên giới mà trên địa bàn cả nước.
Đối với quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, việc hoàn thành phân giới cắm mốc đất liền đã mở ra một trang mới trong lịch sử quan hệ giữa hai nước. Hai bên đã đạt được sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau để cùng quyết tâm hoàn tất quá trình phân giới cắm mốc trong năm 2008, mở ra cơ hội mới cho sự phát triển của mỗi nước về tất cả các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực hợp tác, giao lưu về kinh tế, thương mại, phòng chống các tội phạm xuyên quốc gia ở khu vực biên giới.
Việc hoàn thành phân giới cắm mốc trên biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc còn là một biểu hiện sinh động trong quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nói cách khác, phương châm "16 chữ": Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai và tinh thần "4 tốt": Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt đang được hai nước thể hiện chẳng những bằng nhận thức mà còn bằng hành động cụ thể của mình. Thời gian qua, hai Đảng, hai Nhà nước đã giải quyết thành công hai vấn đề lớn về biên giới lãnh thổ: Phân định các vùng biển và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ (năm 2000) và Hoạch định biên giới trên đất liền (năm 2008). Với những kết quả đó, quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai nước giờ đây đã được nâng lên tầm cao mới, lành mạnh và bền vững hơn. Chúng ta có thể tin tưởng rằng: hai nước sẽ có đủ điều kiện để cùng nhau giải quyết các bất đồng khác liên quan đến biên giới lãnh thổ bằng biện pháp hoà bình, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực (những điều khoản đã được quy định trong các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế), mang lại những đóng góp thiết thực đối với hoà bình, ổn định và phát triển trong khu vực, phù hợp với xu thế đối thoại và giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hoà bình trên thế giới trong thời đại ngày nay.

3. Việt Nam – Lào: (Clip từ kênh VTV4)
                https://www.youtube.com/watch?v=BG_H9cI7EdE

4. Công tác biển, đảo:
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định: “Tăng cường tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia...”[1].Theo đó, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức, trách nhiệm và tình yêu biển, đảo, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của hệ thống chính trị các cấp và lực lượng vũ trang nhân dân.
Mỗi quốc gia đều có truyền thống yêu nước theo đặc trưng lịch sử, đặc điểm xã hội, văn hóa, môi trường sống của nhân dân. Việt Nam là một quốc gia có biển. Cùng với đất liền, biển, đảo tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của cư dân Việt. Vì thế, trong tình yêu đất nước, tình yêu quê hương của người dân Việt Nam luôn có tình yêu biển, đảo. Về kinh tế, biển vừa là nơi cung cấp tài nguyên, khoáng sản, hải sản, vừa là cửa ngõ để vươn ra hội nhập với thế giới. Về lịch sử văn hóa, xã hội, cuộc sống của nhân dân trên biển, đảo luôn là một phần không thể tách rời trong xã hội Việt Nam. Những huyền thoại về Mẹ Âu Cơ; Mai An Tiêm và cả những di chỉ trong các nền văn hóa khảo cổ, như: Quỳnh Văn, Bàu Tró, Thạch Lạc, Hạ Long... là những dấu tích minh chứng sức sống mãnh liệt của cư dân Việt trên biển, đảo. Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, tinh thần yêu nước, yêu biển, đảo cùng với ý thức tự tôn dân tộc đã hun đúc tạo thành nền tảng tinh thần vững chắc, xuyên suốt quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Về quân sự, quốc phòng, biển, đảo, thềm lục địa và đất liền hình thành một khối liên hoàn, vững chắc; sự liên kết giữa các đảo, cụm đảo, quần đảo tạo thành hệ thống cứ điểm tiền tiêu, lá chắn quan trọng, bảo vệ sườn phía Đông của đất nước. Lịch sử dân tộc ta ghi nhận đã có 2/3 các cuộc tiến công xâm lược, kẻ thù sử dụng đường biển để mở đầu. Do đó, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức, trách nhiệm và tình yêu biển, đảo, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng, thiết thực.
Từ nửa đầu thế kỷ XVII, Chúa Nguyễn đã tổ chức “Đội Hoàng Sa” và “Đội Bắc Hải” ra hoạt động trên khu vực quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Thông qua hoạt động khai thác nguồn lợi hải sản của các đội “Hoàng Sa” và “Bắc Hải”, Nhà Nguyễn đã làm chủ và xác định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; đưa hai quần đảo từ hoang vu, vô chủ trở thành một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Hiện nay, vùng biển nước ta có diện tích trên 1 triệu km2, có trên 3 nghìn đảo lớn, nhỏ; trong đó, có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (BVTQ), Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với biển, đảo. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa X) Về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định rõ quan điểm, định hướng mục tiêu cơ bản để phấn đấu: đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, đảm bảo vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển. Những năm gần đây, công tác tuyên truyền, giáo dục về biển, đảo có sự đổi mới; các hoạt động từ đất liền hướng về biển, đảo được tổ chức thường xuyên. Nổi bật là “Tuần lễ Biển và hải đảo Việt Nam” diễn ra sôi nổi ở nhiều địa phương, góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm, tình yêu biển, đảo của các tầng lớp nhân dân. Thông qua các phong trào, như: “Cả nước vì Trường Sa – Trường Sa vì cả nước”, “Chung tay thắp sáng nhà giàn DK1”, các dự án và các công trình phục vụ đời sống sinh hoạt trên các đảo đã tạo thêm điều kiện để bộ đội và nhân dân trên đảo thêm gắn bó với biển, đảo “vững vàng nơi đầu sóng, ngọn gió”. Bộ đội Hải quân với vai trò là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc đã tích cực phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức tuyên truyền bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng về biển, đảo, đạt hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của mỗi người đối với nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Bước sang thế kỷ 21 ‒ “Thế kỷ của biển và đại dương”, trong xu thế chủ đạo là hòa bình, hợp tác, nhưng có thể có những diễn biến mới, phức tạp. Trong đó, Biển Đông vẫn là một trong những khu vực nhạy cảm, tiềm ẩn những nhân tố khó lường. Vì thế, để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, tăng cường quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, chúng ta phải tiếp tục tuyên truyền, giáo dục ý thức trách nhiệm, tinh thần yêu nước và tình yêu biển, đảo trong các tầng lớp nhân dân, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Nội dung tuyên truyền, giáo dục cần tập trung làm rõ các quan điểm, chủ trương của Đảng trong Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược BVTQ trong tình hình mới và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa X) Về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Trên cơ sở chứng cứ lịch sử, chúng ta tiếp tục khẳng định mạnh mẽ ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, trong đó có hai quần đảo: Hoàng Sa và Trường Sa. Trong quan hệ, hợp tác quốc tế, cần tranh thủ các hội nghị, diễn đàn quốc tế để tiếp tục tuyên truyền cho các nước trên thế giới và khu vực hiểu rõ quan điểm, chính sách đối ngoại của Đảng; tăng cường xây dựng lòng tin chiến lược, củng cố hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là kiên trì giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, những cam kết giữa các nước ASEAN với Trung Quốc trong bản Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); thúc đẩy việc hoàn thiện, sớm đạt được thỏa thuận thống nhất về Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC). Mặt khác, chúng ta cần tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết đấu tranh với các hành động vi phạm chủ quyền, lãnh thổ cuả Tổ quốc. Cùng với đó, các cấp, các ngành cần tập trung nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân, nhất là với lực lượng thường xuyên hoạt động trên biển, đảo về pháp luật, chủ quyền vùng biển Việt Nam và yêu cầu, nhiệm vụ kết hợp giữa đẩy mạnh phát triển kinh tế biển với tăng cường quốc phòng – an ninh trên biển; thống nhất nhận thức về xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận quốc phòng – an ninh trên biển, đảo; ý thức giữ gìn môi trường biển,... Trước âm mưu, thủ đoạn chống phá và những luận điệu kích động, xuyên tạc của các thế lực thù địch, công tác tuyên truyền, giáo dục còn phải chú trọng định hướng tư tưởng và hành động của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, để mọi người hiểu rõ, hiểu đúng quan điểm, chủ trương của Đảng đối với những vấn đề tồn tại trên khu vực Biển Đông, tránh các hoạt động tụ tập đông người, biểu tình gây mất trật tự xã hội...
Phương pháp, hình thức tuyên truyền, giáo dục phải đa dạng, phong phú; kết hợp chặt chẽ giữa tiến hành thường xuyên với tuyên truyền theo chuyên đề, sự kiện, phù hợp với từng thời điểm và sát với đối tượng tuyên truyền, giáo dục. Rút kinh nghiệm từ thực tiễn cho thấy, việc tuyên truyền về biển, đảo trên các phương tiện thông tin đại chúng phải thường xuyên, tránh hiện tượng tuyên truyền chỉ “rộ” lên trong thời gian tháng 4, tháng 5 là những tháng tổ chức được nhiều đoàn ra thăm đảo. Các ngành, các địa phương đẩy mạnh các hoạt động có ý nghĩa thiết thực, như: duy trì các lễ hội về biển, đảo; tổ chức các sự kiện với các chủ đề về biển, đảo, như: “Tuần lễ Biển và hải đảo Việt Nam”, các triển lãm ảnh về biển, đảo; các cuộc thi, như: "Sinh viên với biển, đảo của Tổ quốc", “Em yêu biển, đảo quê hương”,… Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực để tổ chức được nhiều đoàn ra thăm đảo, giúp mọi người có hiểu biết sâu sắc hơn, cụ thể hơn về biển, đảo của Tổ quốc; trên cơ sở đó, trở thành những tuyên truyền viên miệng, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của nhân dân đối với biển, đảo.
Mặt khác, cơ quan chức năng cần tiếp tục nghiên cứu, đưa các nội dung về biển, đảo vào sách giáo khoa, tài liệu học tập trong các cơ sở giáo dục, đào tạo ở các bậc học phổ thông, cao đẳng, đại học,... Thông qua đó, tăng cường giáo dục truyền thống lịch sử, tinh thần yêu nước, ý thức, trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với biển, đảo của Tổ quốc; làm cho tình yêu ấy ngày một lan tỏa hơn, sâu đậm hơn, kết thành sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Cùng với đó, cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho lực lượng vũ trang, nhất là các đơn vị Bộ đội Hải quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng, Dân quân tự vệ biển ‒ những lực lượng đóng vai trò nòng cốt thực thi pháp luật, quản lý, bảo vệ biển, đảo. Trong đó, chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ ý thức, trách nhiệm, tình yêu quê hương, biển, đảo. Đó không chỉ là những giá trị tốt đẹp để khẳng định tình cảm thiêng liêng, bổn phận cao quý của mỗi người, mà còn là động lực quan trọng để rèn luyện ý chí quyết tâm chiến đấu “sẵn sàng chấp nhận hy sinh để giữ vững chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc” trong mỗi cán bộ, chiến sĩ. Trên cơ sở đó, cán bộ, chiến sĩ LLVT còn phải thực hiện tốt công tác dân vận, xây dựng mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt quân – dân bằng những hành động thiết thực giúp đỡ ngư dân khi gặp hoạn nạn, thiên tai trên biển; qua đó, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” trên biển ngày thêm vững chắc.
Tuyên truyền, giáo dục, bồi đắp, phát huy tinh thần yêu nước, tình yêu biển, đảo, lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong việc bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đó là trách nhiệm của các cấp, các ngành của cả hệ thống chính trị và lực lượng vũ trang nhân dân. Vì thế, cần tiếp tục nghiên cứu, không ngừng đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục; tích cực khơi dậy truyền thống yêu nước của các tầng lớp nhân dân, làm cơ sở để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong sự nghiệp BVTQ nói chung và bảo vệ chủ quyền biển, đảo nói riêng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

320/PGD-THCS

Hướng dẫn thi học sinh giỏi năm học 2018 - 2019

lượt xem: 554 | lượt tải:0

114/PGD-VP

Hướng dẫn sáng kiến kinh nghiệm năm 2018

lượt xem: 1402 | lượt tải:0

52/PGD-VP

Công văn về tổ chức cuộc thi "Đại sứ văn hóa đọc Thủ đô"

lượt xem: 624 | lượt tải:0
Danh sách thành viên
trangiang
Ngày đăng ký: 02/12/2020
dinhmen
Ngày đăng ký: 30/08/2018
8A8MD2
Ngày đăng ký: 05/05/2019
phanha
Ngày đăng ký: 18/03/2019
7A6MD2
Ngày đăng ký: 17/03/2019
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập10
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm9
  • Hôm nay864
  • Tháng hiện tại2,971
  • Tổng lượt truy cập375,001
EduNet
GD Điện tử
Sở DG&ĐT
Network and partners
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây